Dấu hiệu cảnh báo sớm cảnh báo ung thư đại tràng

Thứ hai - 17/01/2022 20:19
Ung thư đại tràng là ung thư gây tử vong cao thứ 4 trên thế giới sau ung thư phổi, ung thư dạ dày và ung thư gan. Là căn bệnh ung thư phức tạp, diễn biến theo nhiều giai đoạn. Các giai đoạn của ung thư đại trực tràng được phân chia dựa vào nhiều yếu tố. Thế nhưng, nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm thì tỷ lệ được chữa khỏi lên tới 90%. Nhiều người đã sống khỏe mạnh hơn 20 năm sau khi phát hiện bệnh. Vậy làm thế nào để nhận biết các triệu chứng và phòng tránh căn bệnh này hiệu quả? Để hiểu về các giai đoạn của ung thư đại trực tràng, phương pháp điều trị, thời gian sống được bao lâu, mời các bạn đọc bài viết dưới đây.
Dấu hiệu cảnh báo sớm cảnh báo ung thư đại tràng

Các dấu hiệu nguy cơ ung thư đại tràng

Rối loạn tiêu hóa kéo dài: là triệu chứng điển hình nhất xuất hiện ở những giai đoạn đầu. Bệnh ung thư đại trực tràng có biểu hiện ở mọi bộ phận liên quan đến đường tiêu hóa. Một số dấu hiệu thường gặp như hơi thở hôi, hay ợ hơi, ợ chua, đau tức vùng bụng trước hoặc sau khi ăn.

  • Đau quặn bụng, đau râm ran là biểu hiện của rối loạn tiêu hóa do nhiễm khuẩn. Song một vài trường hợp, nó báo hiệu sự tồn tại của các khối u ở dạ dày - ruột.  Người bệnh có thể thường xuyên bị ợ nóng, ợ hơi, khó tiêu, đầy bụng, đau tức bụng trước hoặc sau khi ăn. Ngoài ra người bệnh cũng có thể bị tiêu chảy dài ngày giống với triệu chứng kiết lỵ tuy nhiên nếu bị lỵ có thể điều trị bằng kháng sinh còn ung thư đại tràng thì không. 
 
  • Chán ăn, khó tiêu, đầy trướng bụng trên vùng rốn, ăn không ngon là tình trạng thường thấy ở người bệnh ung thư đại tràng. Tình trạng này kéo dài khiến cơ thể mệt mỏi, sút cân.
 
  • Người bị ung thư đại trực tràng bị rối loạn tiêu hóa, đi ngoài nhiều lần trong ngày rất giống với triệu chứng bệnh lị. Tuy nhiên, người mắc bệnh lị có thể điều trị bằng cách dùng kháng sinh, còn loại thuốc này không có tác dụng với bệnh nhân ung thư đại trực tràng.
 
  • Giảm cân bất thường: Không phải do tập luyện hay ăn kiêng giảm cân mà cơ thể đột ngột sút cân thì bạn cũng không nên coi thường. Rất có thể đó là dấu hiệu của ung thư, nhất là ung thư đại tràng, dạ dày hoặc các bộ phận khác liên quan đến đường tiêu hóa. Đây cũng là dấu hiệu đặc trưng và có liên quan mật thiết tới các bệnh đường tiêu hóa, nhất là ung thư đại trực tràng. Ở người bệnh ung thư đại tràng, các khối u tiết ra chất hóa học làm thay đổi sự trao đổi chất trong cơ thể, kèm theo đó là cảm giác chán ăn, ăn không ngon, khó tiêu sẽ dẫn đến bị sút cân. Tình trạng xuất huyết ra máu, chán ăn, khả năng hấp thụ chất kéo khiến người bệnh giảm cân nghiêm trọng. Người bệnh có thể bị sút tới 5 kg trong vòng 1 tháng dù không ăn kiêng.
    Ảnh minh họa
     Không phải do tập luyện hay ăn kiêng giảm cân mà cơ thể đột ngột sút cân thì bạn cũng không nên coi thường.
 
  • Các rối loạn liên quan bài tiết phân: Đại tràng là cơ quan bài tiết phân trong quá trình tiêu hóa, nên ở giai đoạn sớm, người bệnh thường hay bị chứng rối loạn đại tiện, bài tiết phân như đi táo, đi lỏng thất thường, tình trạng này kéo dài, ngoài ra một triệu chứng điển hình khác là hình thành các cục phân nhỏ. Nguyên nhân là do có các vật cản trong trong quá trình bài tiết khiến cho hình dạng phân bị biến đổi, do đó nếu phát hiện các triệu chứng này người bệnh cần tiến hành thăm khám nhanh chóng. Đồng thời người bệnh cũng thường xuyên có cảm giác mót rặn như phân chưa hết, kèm theo đau quặn bụng khó chịu.
 
  • Xuất huyết ra máu: các triệu chứng đi ngoài ra máu cũng rất phổ biến, tuy nhiên một người có thể nhầm lẫn với bệnh trĩ. Mặt khác xuất huyết ra máu cũng là dấu hiệu của rất nhiều bệnh lý nguy hiểm khác về hệ tiêu hóa nên cần được thăm khám càng sớm càng tốt.
 
  • Ung thư đại trực tràng thường khiến người bệnh đau quặn, mót rặn, khó chịu khi đi ngoài. Khi đi đại tiện, người bệnh thường bị đau quặn, mót rặn, phân nhày mũi máu và phân nát, phân hình lá lúa (do phân phải đi qua khối u), đi xong vẫn muốn rặn tiếp.
 
  • Phân mỏng, hẹp so với bình thường: Kích thước của chất thải cũng giúp phát hiện những bất thường trong hệ tiêu hóa. Tình trạng phân mỏng rất có thể do một vật cản giống như một khối u khiến phân bị chặn lại. Nếu phân có kích thước mỏng như một chiếc bút chì hoặc có hình lá lúa do phải đi qua khối u thì cần đề cao cảnh giác.
 
  • Xuất hiện máu trong phân: Đại tiện kèm máu đỏ tươi, nhỏ giọt, phủ lên phân. Một số trường hợp, ở giai đoạn cuối bệnh nhân còn thấy hậu môn trực tràng sa xuống, toàn thân gầy đi, số lần đại tiện tăng lên, khi táo bón, khi tiêu chảy.
Đây là triệu chứng phổ biến của căn bệnh song nó không đồng nghĩa mọi trường hợp phân có máu đều do mắc ung thư đại tràng. Nếu mắc bệnh khác như trĩ, nứt hậu môn bạn cũng gặp hiện tượng trên. Cần phân biệt đại tiện ra máu do trĩ thường là máu tươi. Còn bệnh nhân ung thư trực tràng thường xuất huyết dưới dạng máu lẫn với nhầy. Vì máu chảy ở niêm mạc vùng ung thư có thể bị viêm nên tiết nhầy.
 
  • Mệt mỏi và suy nhược: đây là triệu chứng phổ biến nhất của ung thư nhưng lại dễ bị bỏ qua nhất. Mệt mỏi do ung thư đại tràng thường liên quan đến thiếu máu do mất máu trong phân. Người bệnh cảm thấy kiệt sức ngay cả khi đã nghỉ ngơi, đồng thời suy nhược cơ thể một cách nhanh chóng mà không rõ nguyên nhân.
 
  • Đau hậu môn và không kiểm soát được sự co thắt: Khối u xuất hiện tại trực tràng với kích thước ngày càng lớn khiến hậu môn ở trong trạng thái căng thẳng, không giữ được sự co thắt ổn định. Nếu vẫn tiếp tục tiếp diễn sẽ làm hậu hôn bị “quá tải”, yếu dần và khiến người bệnh khiểm kiểm soát được tình trạng xì hơi hay buồn đại tiện. Đồng thời tình trạng đi ngoài ra máu cũng ở mức độ nguy hiểm hơn.
 
  • Cảm nhận được khối u: Khoảng 60% bệnh nhân có thể sờ thấy khối u ở bụng, tuy nhiên thường là ở những giai đoạn cuối do kích thước khối u đã phát triển lớn hơn.

Ngoài các triệu chứng nêu trên, khi ung thư muộn thì có người sờ thấy cả khối u nổi ở dưới da bụng, vàng da, bụng to dần…

Nguyên nhân ung thư đại tràng bao gồm

Ảnh minh họa
Các nguyên nhân có thể gây ung thư đại tràng
  • Polyp đại tràng: Là nguyên nhân quan trọng gây ung thư đại tràng. Theo một nghiên cứu, trên 50% trường hợp ung thư đại tràng phát sinh trên cơ sở của polyp đại tràng. Số lượng polyp càng nhiều thì tỷ lệ ung thư hoá càng cao. Thông thường nếu polyp có đường kính dưới 5mm thì khá lành tính, ít có nguy cơ biến chứng thành ung thư. Tuy nhiên nếu Polyp có kích thước trên 20mm, xuất hiện với số lượng lớn và kéo dài trên 5- 15 năm thì nguy cơ biến chứng thành ung thư ác tính.
     

  • Các bệnh đại tràng mãn tính: Ung thư đại tràng có thể phát sinh trên tổn thương của các bệnh: lỵ, amip, lao, giang mai, thương hàn và các bệnh lý khác của đại tràng như viêm loét đại tràng mãn tính
     

  • Chế độ ăn uống ít chất bã, nhiều mỡ và đạm động vật: Chế độ ăn này làm thay đổi vi khuẩn yếm khí ở đại tràng, biến acid mật và cholesterol thành những chất gây ung thư. Đồng thời thức ăn ít bã làm giảm khối lượng phân gây táo bón, chất gây ung thư sẽ tiếp xúc với niêm mạc ruột lâu hơn và cô đặc hơn, tác động lên biểu mô của đại tràng. Các chất phân hủy của đạm như indol, seatol, piridin là những chất gây ung thư trong thực nghiệm, cũng có thể gây ung thư trên người.
     

  • Yếu tố di truyền: Bệnh polyp đại tràng gia đình liên quan tới đột biến của gen APC (Adenomatous polyposis coli), chiếm 1% các ung thư đại tràng. Ngoài ra, HNPCC còn gọi là hội chứng Lynch, liên quan tới gen P53, RAS và DCC. Chiếm 5% trong số các ung thư đại trực tràng

Các giai đoạn phát triển của ung thư đại tràng.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa các giai đoạn phát triển ung thư

Giai đoạn 0

 
  • Ung thư ở giai đoạn sớm nhất. Giai đoạn này còn được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ Hoặc ung thư biểu mô trong niêm mạc (Tis).
 
  • Tế bào ung thư còn giới hạn ở lớp trong cùng (niêm mạc) của đại tràng Hoặc trực tràng, chưa phát triển ra ngoài.

Trong giai đoạn này, các tế bào ung thư chỉ được tìm thấy trong lớp lót bên trong của trực tràng, khối u có kích thước rất nhỏ và chưa có hiện tượng di căn. Đây là giai đoạn sớm nhất của bệnh. Ở giai đoạn 0, bệnh hầu như không biểu hiện bất cứ triệu chứng ung thư trực tràng nào và do dó chỉ có thể phát hiện được bệnh thông qua việc khám tầm soát ung thư.

Việc điều trị ung thư đại trực tràng giai đoạn 0 khá đơn giản, thông qua phẫu thuật: Có thể loại bỏ trực tiếp khối u hoặc một phần nhỏ của đại trực tràng có chứa khối u. Ngoài ra, tùy vào tình trạng của bệnh nhân, bác sĩ có thể chỉ định phương pháp xạ trị (trong hoặc ngoài) để điều trị triệt căn ung thư đại trực tràng.

Trong một số trường hợp của ung thư đại tràng có polyp có thể loại bỏ polyp hoặc loại bỏ khối u thông qua nội soi (cắt bỏ cục bộ).

Giai đoạn I

Ảnh minh họa
Ở giai đoạn I, các tế bào ung thư đã phát triển qua lớp lót bên trong đến lớp dưới niêm mạc nhưng chưa xuyên qua lớp cơ của trực tràng
  • Ung thư đã phát triển xuyên qua lớp niêm mạc vào thành trong trực trang nhưng vẫn chưa vượt qua thành, chưa lây lan sang các mô và các hạch bạch huyết lân cận.

Ở giai đoạn I, các tế bào ung thư đã phát triển qua lớp lót bên trong đến lớp dưới niêm mạc nhưng chưa xuyên qua lớp cơ của trực tràng. Bên cạnh đó, sự di căn sang các cơ quan khác cũng chưa diễn ra.

Trong giai đoạn này, các triệu chứng hầu như ít xuất hiên, nếu có thì cũng không đặc trưng và dễ bị nhầm lẫn sang các bệnh khác của đại trực tràng. Hai triệu chứng dễ nhận thấy nhất trong ung thư đại trực tràng giai đoạn I là chảy máu trong phân và rối loạn tiêu hóa. Tế bào ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc đến các vị trí xa hơn.

Phương pháp điều trị chủ yếu trong giai đoạn này vẫn là phẫu thuật ung thư đại tràng - trực tràng cắt bỏ khối u. Tuy nhiên, nếu khối u có kích thước nhỏ hoặc nạn nhân không đủ sức khỏe để phẫu thuật, các bác sĩ chỉ định điều trị bằng xạ trị. Tuy nhiên, xạ trị không hiệu quả bằng phẫu thuật nên trong nhiều trường hợp, bệnh nhân có thể được trị liệu bằng hóa trị và xạ trị kết hợp.

 Nếu được phát hiện và điều trị thích hợp ở giai đoạn này, bệnh nhân có thể khỏi bệnh hoàn toàn. Theo ước tính của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ từ năm 2004 -2010, tỷ lệ sống tương đối 5 năm đối với những người bị ung thư ruột kết giai đoạn I là khoảng 92%. Đối với ung thư trực tràng, tỷ lệ này là 88%

Giai đoạn II

  • Ung thư đã phát triển đến các lớp ngoài cùng của đại trực tràng nhưng chưa vượt qua chúng 
  • Khi bệnh phát triển tới giai đoạn 2 cũng đồng nghĩa khối u đã xâm lấn sâu hơn vào trong hoặc xuyên qua thành trực tràng. Lúc này, tế bào ung thư có thể lấn sang các mô lân cận nhưng vẫn chưa lây lan tới các hạch bạch huyết gần đó hoặc ở nơi khác.

Giai đoạn mà khối u đã phát triển qua các lớp của trực tràng, xâm lấn sang các cơ quan lân cận khác (chẳng hạn như bàng quang, tử cung, hoặc tuyến tiền liệt), nhưng chưa có hiện tượng di căn sang các hạch bạch huyết cũng như các cơ quan xa trực tràng, thì được coi là giai đoạn II của bệnh.

Dựa vào sự phát triển và kích thước của khối u nằm ở trực tràng, giai đoạn này tiếp tục được chia làm 3 trường hợp nhỏ hơn là giai đoạn IIA, IIB và IIC:

  • Giai đoạn IIA: Khối u đã phát triển đến các lớp ngoài cùng của đại tràng hoặc trực tràng nhưng chưa xuyên qua và chưa xâm lấn đến các cơ quan gần đó. Tế bào ung thư không lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc đến các vị trí xa hơn.
  • Giai đoạn IIB: Khối u đã phát triển qua thành trực tràng nhưng chưa xâm lấn sang các mô hoặc cơ quan lân cận đó. 
  • Giai đoạn IIC: Khối u đã phát triển qua thành trực tràng và đã xâm lấn đến các mô hay cơ quan lân cận trực tràng. Tế bào ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc đến các vị trí xa hơn.

So với các giai đoạn trước, các triệu chứng của bệnh ung thư đại trực tràng giai đoạn II biểu hiện rõ ràng hơn. Bệnh nhân có thể bị mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, đi ngoài ra máu, thay đổi khẩu vị, táo bón, tắc ruột, thay đổi tính chất phân. Thậm chí một số trường hợp có thể bị tụt cân rõ rệt.

Tại giai đoạn này, bệnh nhân vẫn có thể hoàn toàn khỏi bệnh nếu được phát hiện và điều trị thích hợp. Tiên lượng sống của giai đoạn này nằm trong khoảng 65 % –87%.

Các phương pháp điều trị trong giai đoạn này bao gồm:

  • Phẫu thuật cắt bỏ  khối u hoặc tất cả các mô, cơ quan có chứa khối u.
  • Hóa trị hoặc xạ trị trước hoặc sau khi phẫu thuật. Nếu hóa trị được bổ sung sau  sau phẫu thuật, thường áp dụng tổng cộng khoảng 6 tháng. Hóa trị có thể là chế độ FOLFOX (oxaliplatin, 5-FU, và leucovorin), 5-FU và leucovorin, CAPEOx (capecitabine kết hợp với oxaliplatin) hoặc capecitabine đơn thuần, sự lựa chọn nên phù hợp nhất với tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Giai đoạn III

Ảnh minh họa
Trong giai đoạn III của bênh, các tế bào ung thư u đã lan sang các hạch bạch huyết gần đó

Trong giai đoạn III của bênh, các tế bào ung thư u đã lan sang các hạch bạch huyết gần đó nhưng chưa di căn đến các cơ quan xa trực tràng. Giai đoạn này lại tiếp tục được chia thành các giai đoạn nhỏ hơn là giai đoạn IIIA, IIIB và IIIC:

Giai đoạn IIIA: Là tình trạng mà khối u đã phát triển đến lớp dưới niêm mạc, đôi khi có thể xuyên đến lớp cơ của trực tràng. Đồng thời, tế bào ung thư đã di căn sang 1 đến 3 hạch bạch huyết gần đó, hoặc các mô mỡ xung quanh các hạch.

Trong một số trường hợp, khối u phát triển đến lớp hạ niêm mạc, chưa xuyên đến lớp cơ của trực tràng và có sự di căn của tế bào ung thư sang 4 đến 6 hạch bạch huyết lân cận cũng được xếp vào giai đoạn IIIA của bệnh.     

Giai đoạn IIIB: Có thể thuộc một trong ba trường hợp sau:

  • Khối u đã phát triển đến các lớp ngoài cùng của trực tràng hoặc xuyên qua phúc mạc bụng, nhưng chưa xâm lấn đến các cơ quan lân cận. Đồng thời, các tế bào ung thư đã lan sang từ 1 đến 3 hạch bạch huyết gần đó, hoặc vào các mô mỡ gần các hạch bạch huyết.
  • Khối u phát triển đến lớp cơ hoặc lớp thanh mạc của trực tràng. Đồng thời, tế bào ung thư đã lan sang 4 đến 6 hạch bạch huyết gần đó.
  • Khối u đã phát triển đến lớp hạ niêm mạc hoặc lớp cơ của trực tràng. Đồng thời, tế bào ung thư đã lan sang từ 7 hạch bạch huyết trở lên.

Giai đoạn IIIC: Có thể thuộc vào một trong ba trường hợp sau:

  • Khối u đã phát triển qua thành đại tràng hoặc trực tràng (bao gồm cả phúc mạc nội tạng), thậm chí cả phúc mạc, nhưng chưa xâm lấn đến được các cơ quan lân cận. Bên cạnh đó, tế bào ung thư cũng đã lan sang 4 đến 6 hạch bạch huyết gần đó, không lan đến các vị trí xa hơn.
  • Khối u đã phát triển xuyên qua các lớp ngoài cùng của đại tràng hoặc trực tràng hoặc đến lớp phúc mạc bụng nhưng chưa xâm lấn đến các cơ quan gần đó. Đồng thời, các tế bào ung thư đã di căn sang từ 7 hạch bạch huyết lân cận trở lên.
  • Khối u đã phát triển qua lớp ngoài cùng của đại tràng hoặc trực tràng và đã xâm lấn sang các mô hoặc cơ quan gần đó. Đồng thời, khối u cũng đã lan sang ít nhất một hạch bạch huyết gần đó hoặc vào các mô mỡ xung quanh các hạch bạch huyết.

Các triệu chứng của ung thư trực tràng giai đoạn III biểu hiện rất rõ ràng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người bệnh. Cùng với sự phát triển của khối u, bệnh nhân có thể bị tắc ruột nghiêm trọng gây táo bón, đau bụng hoặc chuột rút. Bên cạnh đó, các triệu chứng như đi ngoài ra máu, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, chán ăn, gầy sút… xuất hiện thường xuyên và với mức độ nặng hơn.

Các phương pháp điều trị được sử dụng trong giai đoạn này cũng tương tự giai đoạn II:

  • Phẫu thuật cắt bỏ khối u (bao gồm cả các mô, cơ quan và hạch bạch huyết chứa tế bào ung thư), có thể kết hợp với hóa trị và xạ trị trước và sau phẫn thuật để tăng cường hiệu quả.
 
  • Hóa trị liệu: Các phác đồ phổ biến nhất bao gồm FOLFOX (oxaliplatin, 5-FU, và leucovorin), 5-FU và leucovorin, CAPEOX (capecitabine cộng với oxaliplatin) hoặc capecitabine đơn thuần. 
 
  • Xạ trị liệu

Thứ tự của các phương pháp điều trị này có thể khác nhau tùy theo tình trạng sức khỏe và diễn biến bệnh lý của người bệnh.

Giai đoạn III là giai đoạn nặng của ung thư trực tràng, với tỉ lệ sống sót sau 5 năm khoảng 50% - 70% nếu bệnh nhân được tiếp nhận các điều trị thích hợp.

Giai đoạn IV

Giai đoạn IV là giai đoạn cuối cùng của ung thư đại trực tràng. Lúc này, khối u đã lan rộng đến các mô và cơ quan xa trực tràng của cơ thể, bao gồm gan, xương, não, phổi,... Trong đó, gan và phổi là những cơ quan dễ bị di căn nhất.

Tương tự giai đoạn III, giai đoạn IV cũng được chia làm 3 trường hợp nhỏ hơn, lần lượt là IVA, IVB và IVC:

Giai đoạn IVA: Khối u nguyên phát có thể hoặc chưa phát triển xuyên qua thành đại tràng hoặc trực tràng. Tế bào ung thư có thể hoặc chưa lây lan đến các hạch bạch huyết lân cận. Đã có sự di căn của các tế bào ung thư đến một cơ quan (như gan hoặc phổi) hoặc các hạch bạch huyết ở xa trực tràng. Tuy nhiên chưa có sự di căn của tế bào ung thư đến các phần xa trực tràng của màng bụng.

Giai đoạn IVB: Khối u nguyên phát có thể hoặc chưa phát triển xuyên qua thành trực tràng. Tế bào ung thư có thể hoặc chưa lây lan đến các hạch bạch huyết lân cận. Đã có sự di căn của các tế bào ung thư đến hơn một cơ quan (như gan, phổi) hoặc các hạch bạch huyết ở xa trực tràng. Tuy nhiên, tế bào ung thư vẫn chưa lan rộng đến các phần xa trực tràng của màng bụng.

Giai đoạn IVC: Khối u nguyên phát có thể hoặc chưa phát triển xuyên qua thành trực tràng. Tế bào ung thư có thể hoặc chưa lây lan đến các hạch bạch huyết lân cận nhưng đã di căn đến các phần xa phúc mạc (niêm mạc khoang bụng) Bên cạnh đó, tế bào ung thư có thể có hoặc chưa di căn đến ở các mô, các cơ quan hoặc các hạch bạch huyết ở xa.

Trong giai đoạn IV, ngoài các triệu chứng gây ra bởi khối u nguyên phát tại trực tràng, bệnh nhân còn gặp phải các triệu chứng khác do các khối u thứ phát. Ví dụ, nếu khối u di căn sáng xương sẽ gây chứng đau xương, di căn sang phổi gây ho và viêm phổi,… Triệu chứng nghiêm trọng nhất mà người bệnh phải chịu đựng là những cơn đau do sự chèn ép của các khối u lên các cơ quan khác trong cơ thể. Sức khỏe của bệnh nhân lúc này giảm sút nghiêm trọng.

Việc điều trị bệnh trong giai đoạn IV chỉ nhằm mục đích giảm nhẹ triệu chứng bệnh, cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài thời giai sống cho bệnh nhân ung thư. Tiên lượng sống của bệnh nhân ung thư đại trực tràng lúc này rất thấp, chỉ khoảng 12-13%.
 

Phương pháp điều trị chủ yếu trong giai đoạn này là hóa trị kết hợp với xạ trị,phẫu thuật. Phẫu thuật cắt bỏ các khối u (cả khối u nguyên phát lẫn thứ phát) cũng có thể được sử dụng nếu sức khỏe của bệnh nhân cho phép.

Nếu di căn không thể được loại bỏ vì chúng quá lớn hoặc có quá nhiều, hóa trị có thể được đưa ra trước khi phẫu thuật để làm giảm kích thước khối u. Sau đó,tiến hành phẫu thuật để loại bỏ khối u. Hóa trị sau đó sẽ được đưa ra một lần nữa sau khi phẫu thuật. Đối với các khối u trong gan, một lựa chọn khác có thể là tiêu diệt chúng bằng cách cắt bỏ. 

Việc lựa chọn chế độ điều trị phụ thuộc vào một số yếu tố bao gồm bất kỳ phương pháp điều trị nào trước đây, sức khỏe tổng thể của bạn và mức độ bạn có thể chịu đựng được việc điều trị.

Làm gì để phòng ngừa ung thư đại tràng?

  • Ung thư đại tràng thường bắt đầu lành tính (gọi là polyp). Polyp không phải là u nhưng là một tổn thương có hình dạng giống như một khối u, có cuống hoặc không, do niêm mạc đại tràng và tổ chức dưới niêm mạc tăng sinh tạo thành. Polyp không phải là ung thư nhưng chúng có thể phát triển thành ung thư sau một thời gian dài.
 
  • Kiểm tra đại trực tràng thường xuyên là một trong những cách tốt nhất để phòng tránh ung thư. Polyp tiền ung thư thường không biểu hiện triệu chứng, có thể được tìm thấy qua nội soi đại tràng vài năm trước khi ung thư xâm lấn phát triển. Kiểm tra sàng lọc cũng tìm thấy được polyp tiền ung thư và cắt bỏ trước khi nó trở thành ung thư. Đây được xem là cách phòng bệnh cụ thể nhất.
 
Ung thư đại tràng có thể phòng tránh được thông qua thói quen ăn uống lành mạnh. Có nhiều yếu tố nguy cơ mà mọi người có thể phòng tránh được như:
 
  • Các loại thịt đỏ (thịt bò, thịt cừu) được xem là có liên quan mật thiết đến ung thư đại tràng. Ăn khoảng 160g/ngày hoặc chế độ ăn với thịt quá 5 lần/tuần có nguy cơ cao gấp 3 lần. Dưới hình thức chiên, nướng, thịt xông khói, dăm bông, xúc xích, chất đạm sẽ làm tăng yếu tố sinh ung thư, còn mỡ sẽ bị chuyển hóa bởi vi khuẩn trong lòng ruột, làm tăng sản các tế bào biểu mô bất thường và phát triển thành ung thư. Ăn nhiều thịt, mỡ, đạm, ít chất xơ dễ dẫn đến béo phì và có nguy cơ cao gây ung thư đại tràng, nên cần thay đổi chế độ ăn khoa học hơn để phòng bệnh.
    Ảnh minh họa
    Ăn nhiều thịt, mỡ, đạm, ít chất xơ dễ dẫn đến béo phì và có nguy cơ cao gây ung thư đại tràng
 
  • Các thức ăn chứa nhiều chất xơ (rau xanh, trái cây) giúp làm giảm nguy cơ này vì chất xơ giúp gia tăng tiêu thụ acid folic, gia tăng kết hợp chất xơ với các yếu tố sinh ung thư dẫn đến việc loại khỏi lòng ruột sớm vì giảm thời gian ứ đọng phân. Ngoài ra, chất xơ làm giảm pH trong lòng đại tràng và tăng sản xuất các acid béo chuỗi ngắn và yếu tố vi lượng chống hiện tượng ôxy hóa.
 
  • Các loại nước uống chứa cồn làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng.
 
  • Thuốc lá được biết đến như là những “sát thủ” của bệnh lý tim mạch hay ung thư phổi. Gần đây nó được công nhận là những yếu tố nguy cơ rất quan trọng gây ung thư đại tràng cho cả hai giới, nhất là khi kết hợp với rượu bia.
    Ảnh minh họa
    Hút thuốc có nguy cơ bị ung thư đại tràng tăng 20%
 
  • Hoạt động thể lực, vận động hay luyện tập thể dục sẽ làm giảm nguy cơ mắc ung thư đại tràng.
Ung thư đại tràng là một căn bệnh tiềm ẩn rất nhiều nguy hiểm mà người bệnh nên có hướng phòng tránh càng sớm càng tốt. Mỗi người nên có biện pháp phòng ngừa bệnh, thay đổi lối sống lành mạnh hơn để bảo vệ sức khỏe một cách tốt nhất.

Tác giả: Dung Hoàng ngọc

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Nhà thuốc HOÀNG THỊ Y TÔNG - 200 năm chữa bệnh cứu người

HOÀNG THỊ Y TÔNG là nhà thuốc Đông y gia truyền có tuổi đời hơn 200 năm, được đông đảo người bệnh trên cả nước biết đến với những bài thuốc Nam ,thuốc Bắc đặc biệt, độc đáo, hiệu quả chữa bệnh cao. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Nhà thuốc HOÀNG THỊ Y TÔNG vẫn luôn tự hào đóng góp tích cực trong sự...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về bệnh Viêm loét dạ dày?

Thống kê
  • Đang truy cập284
  • Hôm nay12,547
  • Tháng hiện tại287,373
  • Tổng lượt truy cập1,730,274
Left-column advertisement
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Gửi phản hồi